Congtuvtv’s Weblog

Just another WordPress.com weblog

Internet TV

leave a comment »

Nhiều người đã nhầm lẫn khái niệm IPTV với Internet TV. Thực ra, 2 hình thức truyền hình này khác nhau tương đối cơ bản.

Nói đơn giản, dịch vụ IPTV sẽ được nhà cung cấp đảm bảo từ công đọan sản xuất đến tận tivi nhà bạn thông qua máy tính kết nối internet băng thông rộng với chất lượng hình ảnh HD. Điều này đòi hỏi sự đầu tư rất lớn cho cơ sở hạ tầng để có thể cung cấp hoàn hảo dịch vụ IPTV chất lượng cao. Internet TV yêu cầu chi phí đầu tư thấp hơn nhiều, đơn giản chỉ là một thư viện hình ảnh trên internet (dựa trên tính năng lưu trữ của web) cho phép khán giả truy cập và xem bất cứ thứ gì trong thư viện một cách nhanh nhất. IPTV thường dùng phát cả đại trà lẫn thu tiền với những dòng IP được bảo mật, phát đa điểm cho những chương trình miễn phí và đơn điểm với các chương trình người xem trả tiền. Internet TV trên thế giới lại là một hình thức truyền hình miễn phí, dựa trên tính năng lưu trữ của web, đẩy chương trình lên mạng thông tin toàn cầu và bất cứ ai cũng có thể truy cập. Nguồn thu của chương trình truyền hình internet sẽ là quảng cáo, phí dịch vụ giới thiệu sản phẩm cho các công ty, bán hàng qua mạng,…

Chất lượng hình ảnh về mặt lý thuyết của InternetTV đương nhiên thấp hơn IPTV. Người xem cũng có nhiều quyền lợi hơn khi chấp nhận dùng IPTV bởi họ được quyền yêu cầu, trong khi với internet TV chỉ là được quyền lựa chọn. Không vì thế mà internet TV thiếu sức cạnh tranh. Đầu tư thấp, chạy trên hệ thống cơ sở hạ tầng có sẵn, khả năng phủ sóng rộng khắp – nơi nào có web, nơi đó có internetTV – biến Internet TV thành một đối thủ lớn.

Kỷ nguyên Web 2.0 mở ra đưa đến cho internetTV một sức mạnh mới đáng nể. Có thể đến giờ, bạn vẫn chưa hiểu web 2.0 là gì? Hàng ngày bạn vẫn viết blog?! 2.0 đấy. Trước đây, muốn chia sẻ những thông tin cá nhân trên web, bạn phải lập 1 website riêng mà không phải ai cũng có những kỹ năng viết và quản lý. Blog ra đời cho phép bất cứ công dân mạng nào cũng có thể xây dựng cho mình một trang thông tin điện tử cá nhân, nơi bạn có thể làm bất cứ thứ gì bạn muốn như một tổng biên tập thực sự.

Và khi muốn tìm hiểu về InternetTV, bạn vào Google đánh chữ “internetTV”, trang web nào sẽ hiện ra đầu tiên định nghĩa cho bạn? Wikipedia, cuốn từ điển vĩ đại nhất trong lịch sử loài người. Từ khi có Wikipedia, bộ đĩa t điển nổi tiếng Britannica mà tôi luôn phải cập nhật hàng năm đã trở thành kỷ niệm. Chẳng ai bĩu môi chê trách tôi là kẻ “hết chim bẻ ná” cả. Wikipedia chính là Web 2.0 đấy.

Theo tôi, những tính năng của web 2.0 sẽ quyết định tính chất chương trình internetTV. Ai muốn làm truyền hình internet mà bỏ qua nó, người đó sẽ thất bại. Truyền hình internet sẽ không phải là công cụ tuyên truyền của nhà sản xuất, nó phải là phương tiện của người xem. Người xem sẽ đứng trên tác phẩm, toàn quyền xem xét, đánh giá, thêm bớt, sửa chữa, bình luận theo ý thích cá nhân. Tính chất này đặt công nghệ truyền hình trên web 2.0 cũng như phương pháp thực hiện chương trình internetTV trước một thách thức lớn mà hiện giờ chưa thể vượt qua. Nhưng chắc chắn nó phải như thế, giống như hiện nay mỗi người có thể sửa chữ từ điển mở bằng text trên mạng theo ý muốn cá nhân mình vậy.

InternetTV sẽ vừa là một trí tuệ tập thể, vừa mang dấu ấn từng cá nhân xem chương trình. Chính vì là sản phẩm mang dấu ấn tập thể nên sự liên kết của nó phải cực kỳ hợp lý, khoa học nhưng cũng không được kém phần rộng lớn. Liên kết dữ liệu, liên kết các chức năng ứng dụng, liên kết con người. Theo số liệu thống kê Lực học ở Hàn Quốc năm 2006 cung cấp cho tôi, Amazon đã bán được 45% là những sản phẩm từ khung gợi ý “also buy” nhờ bộ phận quản lý tag hoàn hảo. Những related video, also view của truyền hình internet cũng cần thông minh như vậy. Nó sẽ quyết định đến kết cấu nội dung phi-kết-cấu-truyền-thống của truyền hình internet. Đơn giản với một chương trình, bạn có 2 phút sẽ xem theo kiểu 2 phút, 10 phút sẽ xem theo kiểu 10 phút… Bạn là ông chủ, bạn đứng trên dữ liệu và không bị phụ thuộc vào dữ liệu như những hình thức chương trình truyền thống khác. Đó là nền tảng và cũng là tư duy của web 2.0. Đó cũng là mục đích hướng tới của hình thức truyền hình internet theo quan điểm riêng của cá nhân tôi.

Còn hiện tại, chúng ta đành hài lòng với những chương trình, phát trên những màn hình bé tí, với một kết cấu truyền thống và những related video đính theo thư mục như kiểu youtube cho đến khi có một thằng điên nào đó quyết định làm truyền hình internet trong điều kiện Việt Nam bây giờ.

Nhân tiện nhắc đến Youtube, tính năng up video này sẽ cho phép mọi khán giả có thể tham gia trở thành nhà sản xuất của truyền hình internet. Bạn có mặt ở nơi diễn ra sự kiện mà không phóng viên nào có, bạn sử dụng bất cứ thiết bị ghi hình nào rồi gửi về đài truyền hình thông qua điện thọai di động, internet. Trong thời gian ngắn nhất, những hình ảnh của bạn đã được phát sóng trên mạng toàn cầu. Bạn cũng có thể tham gia hoàn tất những chương trình được nhà sản xuất chủ động để ngỏ… Rất nhiều tính năng khác nữa mà khuôn khổ bài viết giới thiệu không cho phép. Hẹn các bạn ở những bài chi tiết sau.

Bài tiếp theo sẽ viết về truyền hình di động.

Written by Trương Công Tú

August 4, 2008 at 12:23 pm

IPTV

with one comment

Trong vài năm tới, thuật ngữ này sẽ rất phổ biến ở Việt Nam. Theo quan điểm của tôi, nó sẽ là tương lai của ngành truyền hình thế giới bởi không một hình thức truyền hình nào có thể cung cấp nhiều kênh, nhiều phương án tương tác với người sử dụng như IPTV. IPTV không chỉ là 1 dịch vụ, mà nó là gói dịch vụ tương tác hội tụ tất cả những phương tiện truyền thông mạnh nhất và thông dụng nhất mà con người đang có: tivi, máy vi tính, web.

Thật khó để có thể diễn giải đơn giản cho những người chưa có ý niệm gì về IPTV hiểu rõ nó là hình thức truyền hình gì và được vận hành như thế nào. Đến ngay bản thân tôi hiện vẫn đang còn một số thắc mắc, băn khoăn giữa 2 hình thức IPTV và Internet TV. Những gì tôi viết sau đây sẽ có những phần nhỏ mang quan điểm riêng của cá nhân. Những bạn hiểu biết về hình thức truyền hình này có thể phát hiện ra những điểm khác biệt so với những gì đã đọc hay được các nhà cung cấp dịch vụ giới thiệu.

Ai muốn biết về lịch sử IPTV, những chương trình đang rất thành công như LOST có thể tra google. Tôi cũng chỉ đề cập đến truyền hình, không nhắc đến những dịch vụ khác của IPTV trong bài viết này.

IPTV đơn giản là chương trình truyền hình với những hình ảnh kỹ thuật số được phát qua giao thức IP. Bởi vậy, IPTV cho phép tích hợp tất cả các hình thức truyền hình như analog, cáp, truyền hình kỹ thuật số, truyền hình internet vào chương trình của mình. Chính vì thế, số lượng kênh của IPTV có thể lên tới hàng ngàn. Sự lựa chọn nhiều đến đau đầu với bất cứ người dùng nào. Tuy nhiên, khác với hình thức truyền hình truyền thống, nếu có nhiều lựa chọn, bạn phải chuyển kênh liên tục để tìm chương trình thích hợp, và nếu bạn bật tivi không đúng giờ phát sóng, bạn sẽ bị lỡ mất chương trình yêu thích. IPTV cho phép bạn chủ động lựa chọn chương trình yêu thích, và với chức năng lưu trữ trên mạng, bạn có xem bất cứ khi nào bạn muốn, đọan nào không muốn xem, bạn thoải mái tua qua. Chính chức năng tua này khiến nhiều người băn khoăn không muốn tiến hành những chương trình giới thiệu sản phẩm trên IPTV. Hãy tưởng tượng, bạn mua một tờ báo và bạn sẽ quyết định đọc bất cứ khi nào bạn thích, bất cứ chuyên mục nào bạn thấy hứng thú, bất cứ bài nào hấp dẫn, thậm chí chỉ đọc vài câu đầu câu cuối. Khi xem IPTV, bạn cũng có thể  làm như vậy. Chính vì thế, đặc tính này làm thay đổi kết cấu cụ thể 1 chương trình truyền thống với đặt vấn đề – giải quyết vấn đề – kết luận. Kết cấu nội dung chương trình truyền hình IPTV thế nào sẽ được tranh luận với các bạn trong 1 entry khác.

Nhiều người nhầm lẫn dịch vụ IPTV với những chức năng chia sẻ hình ảnh như Youtube. Theo quan điểm của tôi thì không phải. IPTV là gói dịch vụ mà nhà cung cấp đảm bảo từ khâu phát hành ra đến tận tivi nhà bạn. Những dịch vụ chia sẻ hình ảnh như youtube phù hợp hơn với truyền hình internet, đơn giản chỉ là đẩy chương trình lên mạng, ai thích xem thì xem. Qua đây chúng ta biết, muốn sử dụng dịch vụ IPTV, người dùng sẽ phải mua một bộ giải mã set-top box (cũng như truyền hình kỹ thuật số mặt đất). Bộ giải mã này sẽ nối PC được kết nối internet băng thông rộng với tivi nhà bạn, cung cấp chương trình chất lượng hình ảnh, âm thanh MPEG2, MPEG4.

IPTV có 2 hệ thống chính: miễn phí và trả tiền. Rất nhiều hãng truyền hình lớn trên thế giới đã đưa chương trình của mình lên mạng phát miễn phí song song hoặc phát chậm hơn chương trình trên tivi. Tôi thấy phần này gần hơn với hình thức internetTV, nghĩa là anh chỉ phát chương trình trên trang web của anh. Ở Việt Nam, một số cơ quan truyền thông đại chúng như VTV, VTC, Vietnamnet, Tuổi trẻ… cũng đưa những chương trình đã phát sóng lên internet hoặc sản xuất những chương trình, số hóa rồi đẩy lên mạng. Những hình thức này thuộc về internetTV nhưng cũng chỉ là một phần nhỏ, chiếm khoảng 10% chương trình của hệ thống internet TV chuẩn (thực ra chẳng có chuẩn nào do tổ chức nào đặt ra cho đến thời điểm này như tôi biết. Chuẩn này chỉ là quan điểm về truyền hình internet TV của tôi). Bởi vì chương trình truyền hình phát trên internet cần tận dụng tối đa những tính năng và khả năng tương tác cực cao của web, nó đòi hỏi một cấu trúc chương trình riêng khác biệt hoàn toàn với hình thức làm truyền hình truyền thống. Như đã nói, đây sẽ là đề tài hấp dẫn để tranh luận với mọi người ở những entry sau.

Với hình thức truyền hình trả tiền, nghĩa là người xem phải trả tiền để xem những chương trình theo yêu cầu của mình (VoD – view on demand), IPTV đem đến một thách thức lớn cho các hình thức truyền hình khác. Bởi khi bạn đã mất tiền, bạn sẽ được xem những gì bạn muốn. Ở Việt Nam, phát triển hình thức này tương đối khó bởi thói quen hưởng thụ dịch vụ của người dân, tư tưởng quản lý của chính quyền… Người dân đã quen với việc thụ hưởng những chương trình miễn phí, quảng cáo tí cũng không sao. Chính quyền thì kiểm duyệt ngặt nghèo nhất cử nhất động của các cơ quan truyền thông đại chúng. Mà những chương trình VoD này, doanh thu chủ yếu sẽ đến từ các chương trình 2S: sex và shock. Làm cái này bị thổi còi toe toe ngay.

Trên đây là vài nét chính của IPTV. Tôi sẽ lần lượt viết tiếp truyền hình internet và truyền hình di động trước khi quay trở lại đề cập sâu hơn đến 3 dạng truyền hình này bởi nó những phần giao thoa và tương tác nhất định.

Ở Việt Nam, các bạn có thể tham khảo website www.itv.vn được FPT Telecom phát triển, một hình thức của IPTV. Theo lời công ty thì hiện họ có hơn 10.000 khách hàng. Không nhiều nhưng tôi cũng chẳng tin với những gì họ làm, có từng ấy khách hàng chấp nhận bỏ tiền để hưởng thụ dịch vụ ấy. Hay 10 nghìn là con số nhân viên và những người được FPT Telecom mời dùng thử nghiệm miễn phí?!

Để phát triển IPTV cần hội đủ một số điều kiện: đường truyền, thị trường và nội dung. Đường truyền ở VN chưa đủ tiêu chuẩn. Thị trường tiềm năng nhưng cần chờ đợi tương đối lâu thì người dân mới quen với việc giao dịch, thanh toán qua mạng, trả tiền khi xem chương trình. Nội dung thì không chỉ Việt Nam, trên thế giới cũng mới đang bước đầu xây dựng cơ sở lý luận cho cấu trúc, phương pháp thực hiện bởi tất cả đều đang đặt những bước chân ban đầu.

Written by Trương Công Tú

June 23, 2008 at 9:21 pm

Lảm nhảm trong ngày giỗ nghề

leave a comment »

Giờ đây, tự nhận là phóng viên, nhà báo cứ thấy ngượng ngượng mồm. Lâu nay chẳng làm được gì ra cái hồn nghề báo. Bởi vậy mà ngày giỗ nghề, chẳng dám thắp hương nghi ngút như các đồng nghiệp. Lặng lẽ nhận những lời chúc của mọi người. Im lặng cảm ơn!

Từ sáng đến trưa, vợ chồng Xi Điên – Hiền Nghệ chủ trì buổi tập trung ở nhà mình. Có cả vợ chồng Hưng Nguyệt và thằng con phá như giặc nhưng nhát như cáy. Cương Ốc đang ở đây, vợ chồng Xike qua nữa. Ngổn ngang thân mến là người với nhau! Các cụ nhà mình nhìn thằng cu nhà Hưng Nguyệt với ánh mắt thèm khát. Thằng con không mót thì thôi. Cậu bố cậu mẹ mót điên lên, cứ nói xa nói gần.

Định rủ Codet đi ăn cơm chay mà không thành. Ai cũng nhậu nhẹt đập phá, mình thích ăn chay trong ngày này. Nghề báo có bao thứ khó tiêu hóa, ăn chay ăn rau cho nó nhuận tràng.

Chiều đi học. Về đi mua từ chè, thuốc đến báo phục vụ cậu bố. Tối thì đèo cậu bố đi thăm họ hàng, rồi về đánh cờ tướng.

Viết những dòng nhạt nhẽo này khi thời gian đã bước qua ngày 22. 21/6 năm ngoái giờ cũng chẳng nhớ đã làm gì. Có lẽ nhậu.

Cảm ơn lời chúc qua blog của mọi người. Cảm ơn những tin nhắn, dù tớ chỉ trả lời có một tin. Cảm ơn món quà của Sói. Có nó, anh sẽ nhìn đời dịu dàng hơn.

Định trong ngày này sẽ viết tiếp về truyền hình internet. Nhưng khi ngồi lại gõ miên man những dòng này. Trong một tâm trạng kỳ lạ. Kể từ ngày được đăng bài báo đầu tiên, mình đã làm nghề được 10 năm. Lựa chọn nó bằng sự tình cờ và gắn bó bằng một tình cảm thật đặc biệt. Khi thì là để tự khẳng định, khi là tình yêu, khi lại là trách nhiệm, một thời gian vì cái nghĩa tình, đa phần vì mưu sinh.

Đang định bỏ dự án phim làm về Ngã 3 Đồng Lộc qua những câu thơ. Nhưng giờ lại muốn làm hơn lúc nào hết. Vẫn chưa hết băn khoăn, mình hợp với việc làm đạo diễn từng phim tài liệu một, hay sẽ trở thành nhà sản xuất cho những chiến lược dài hơi. Nếu làm đạo diễn, nhanh thì mỗi năm làm được 6 phim. Làm nhà sản xuất mới có thể xây dựng được thư viện hình ảnh có hệ thống khoa học và giá trị. Làm đạo diễn có cảm giác dấn thân, mình làm mình chịu trách nhiệm. Làm nhà sản xuất phải cân nhắc, nghĩ đến cả tập thể.

Cảm ơn bạn Pét tồ. Chính entry về bài thơ của Vương Trọng năm ngoái đã giúp tớ nảy ra ý tưởng làm một phim tài liệu không viết lời bình, chỉ có nhạc, những câu thơ và lời tự sự của nhân vật về ngã 3 anh hùng mà bao người đã làm từ phim tài liệu đến phim truyện.

 

10 bát nhang, hương cắm thế đủ rồi

Còn hương nữa, hãy dành phần người khác

Ngã xuống nơi này đâu chỉ có chúng tôi

Bao xương máu mới làm nên Đồng Lộc

 

Lòng tưởng nhớ xin chia đều khắp

Như nắng trong thung, như cỏ trên đồi

Hoa cỏ may khâu nặng ống quần, kia

Ơi các em cổ quàng khăn đỏ

Bên bia mộ xếp hàng nghiêm trang thế

Thương các chị lắm phải không

Thì hãy quay về

Tìm cây non trồng lên đồi Trọ Voi và bao vùng đất trống

Các chị còn khao khát bóng cây che

 

28 năm trôi qua, chúng tôi không thêm một tuổi nào

3 lần chuyển chỗ nằm lại trở về Đồng Lộc

Thương nhớ chúng tôi, các bạn ơi đừng khóc

Về bón chăm cho lúa được mùa hơn

Bữa ăn cuối cùng mười chị em không có gạo

Nắm mì luộc chia nhau, rồi vác cuốc ra đường

 

Cần gì ư, lời ai hỏi trong chiều

Chúng tôi chưa có chồng, và chưa ngỏ lời yêu

Ngày bom vùi, tóc ai bết đất

Nằm trong mộ rồi, mái đầu chưa gội được

Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang

Cho mọc dậy vài cây bồ kết

Hương chia đều trong hư ảo khói nhang…

 

Vẫn chưa biết sẽ dùng một vài bài thơ có sẵn, hay đặt lố muội làm thơ cho bộ phim này. Cũng chưa biết sẽ có những nhân vật nào, kết cấu làm sao. Hay không cần liên hệ trước, cứ đi – làm, và bộ phim sẽ hình thành theo duyên phận của nó?!

Written by Trương Công Tú

June 22, 2008 at 6:45 am

Posted in Nghề báo

Tagged with

Viết tiếp về công nghệ truyền hình

leave a comment »

Ở bài viết trước, tôi đã đề cập đến công nghệ truyền hình kỹ thuật số mặt đất và truyền hình kỹ thuật số vệ tinh.

VTV với DTH, một dạng truyền hình kỹ thuật số vệ tinh, sẽ cạnh tranh với VTC sử dụng công nghệ truyền hình số mặt đất. Ai sẽ chiến thắng? Câu trả lời của tôi rất ba phải: Cả 2. Mỗi thể lọai sẽ có ưu điểm, thế mạnh riêng.

Nhìn vào các nước trên thế giới, ngay cả khi hệ thống truyền hình kỹ thụât số vệ tinh đã phù sóng rộng khắp, chính phủ vẫn hỗ trợ phát triển hệ thống truyền hình kỹ thuật số mặt đất bởi nó rất phù hợp với hệ thống đài truyền hình địa phương.

Với vệ tinh trên quỹ đạo, đương nhiên truyền hình kỹ thuật số vệ tinh có diện phủ sóng rộng và thuận lợi hơn nhiều so với truyền hình kỹ thuật số mặt đất. Bù lại, hệ thống trên mặt đất lại được thừa hưởng những di sản vô cùng to lớn từ những tháp phát sóng có sẵn, dải tần VHF, UHF truyền thống… Bởi vậy, giải pháp tốt nhất cho cả 2 công nghệ này là bắt tay nhau, cùng tồn tại. Ý tưởng này hoàn toàn khả thi bởi 2 công nghệ này tương đối tương đồng. Đã xuất hiện những công ty sản xuất thiết bị set-top box tích hợp giải mã được tín hiệu của kỹ thuật số mặt đất, đồng thời thay thế ăng-ten parabol thu tín hiệu từ truyền hình số vệ tinh.

Nếu 2 công nghệ này kết hợp với nhau, nó sẽ đem đến cho khán giả sự lựa chọn kênh nhiều gấp bội, trở thành thế lực lớn mạnh nhất của hệ thống truyền hình tương lai.

Ở bài viết trước, có bạn đã thắc mắc, tại sao chất lượng hình ảnh âm thanh của truyền hình kỹ thuật số ở Việt Nam mới dừng ở mức trung bình khá, không như quảng cáo. Điều này cũng dễ hiểu. Nguyên nhân cơ bản nhất do thiếu đồng bộ. Chúng ta, cụ thể là VTC, mới số hóa ở khâu phát sóng. Máy quay tiền kỳ vẫn đang đa chủng lọai, từ chất lượng betacam, DV, DVC đến số. Dựng hậu kỳ cũng đang có nhiều chuẩn, đa phần mới dừng ở chất lượng DV (14G/1 tiếng băng), tương đương với chất lượng máy quay, bàn dựng du lịch, dành cho cá nhân, gia đình. Đồng bộ hóa của nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ mới là điều kiện cần. Điều kiện đủ là người sử dụng cần dùng tivi kỹ thuật số. Như vậy mới có thể cho chất lượng như lý thuyết, tất nhiên trong điều kiện thời tiết tốt, không có trở ngại trong công tác truyền dẫn phát sóng

Written by Trương Công Tú

June 22, 2008 at 6:44 am

So sánh một số công nghệ truyền hình (bài 1)

leave a comment »

Tiếp tục vấn đề bài viết trước đang đặt ra, tôi sẽ phân tích so sánh một số công nghệ truyền hình, qua đó chúng ta sẽ thấy rõ hơn ưư thế cạnh tranh trong hiện tại và cả tương lai sẽ thuộc về công nghệ nào. Tôi cố gắng lược bỏ những thuật ngữ phức tạp, những kiến thức chuyên môn không cần thiết, phân tích những kiến thức cơ bản nhất để những bạn không có chút khái niệm về công nghệ truyền hình vẫn có thể hiểu được.

Truyền hình analog đã được đề cập ở entry trước. Sở dĩ phải dành riêng một bài viết bởi nó quá phổ biến ở Việt Nam. Cho đến bây giờ, nó vẫn được xem nhiều nhất (thể hiện qua tiền quảng cáo thu được) dù cho phương thức phát sóng đã được san sẻ cho nhiều công nghệ khác như DTH, cáp, kỹ thuật số mặt đất…

 Công nghệ analog đã hoàn thành nhiệm vụ. Khoa học công nghệ phát triển không cho phép con người tiếp tục phải đặt niềm tin vào một hình thức truyền hình cho chất lượng hình ảnh âm thanh trung bình, lãng phí tài nguyên tần số, phụ thuộc nhiều vào thời tiết như analog nữa. Đó là còn chưa tính đến việc lưu trữ, bảo quản băng hình của hệ thống truyền hình analog không khác gì một thư viện sách báo truyền thống, tốn diện tích, tìm kiếm lâu, thiếu an toàn.

Hơn 5 năm trở lại, truyền hình kỹ thuật số xâm nhập vào Việt Nam đem đến một làn gió mới, cạnh tranh quyết liệt với truyền hình analog. Những điều chúng ta nhìn thấy dưới góc độ xã hội và thị trường, là sự cạnh tranh giành khán giả quyết liệt giữa VTC và VTV. Về mặt công nghệ, truyền hình kỹ thuật số nhìn analog bằng nửa con mắt, như một di chứng công nghệ lạc hậu, chẳng thèm cạnh tranh làm gì.

Truyền hình số nói nôm na là tín hiệu hình ảnh được mã hóa thành những con số trước khi phát sóng. Mã hóa như thế nào đài truyền hình giữ bí mật. Bởi vậy, tivi cần có thiết bị giải mã do đài truyền hình cung cấp (bán).

Có 2 lọai truyền hình kỹ thuật số là vệ tinh và mặt đất. Công nghệ mà VTC đang sử dụng là kỹ thuật số mặt đất. Kỹ thuật số mặt đất có 3 dạng tiêu chuẩn phương thức truyền dẫn, Việt Nam chúng ta đi theo tiêu chuẩn của châu Âu – DVB (Digital Video Broadcasting). Hơn 40 nước ở châu Âu, châu Á có Trung Quốc… đang sử dụng tiêu chuẩn này. 10 nước Đông Nam Á cũng quyết định sử dụng chung tiêu chuẩn DVB-T. Đây là thị trường và cơ hội rất lớn nếu bạn nào thích làm ăn thử kinh doanh việc sản xuất những thiết bị giải mã (set-top box) chứ đừng để các chú Trung Quốc chén từ giầy, tất đến đất xung quanh như bây giờ.

Ưu điểm của truyền hình kỹ thuật số mặt đất là tiết kiệm tài nguyên tần số, phát được 8 chương trình trên mỗi kênh. Chất lượng hình ảnh âm thanh theo công nghệ số nên rất cao, đáp ứng nhu cầu của người xem truyền hình hiện đại. Do tín hiệu được truyền qua không khí nên truyền hình KTS chịu ảnh hưởng của thời tiết, những khu nhà cao tầng cũng hạn chế và làm gián đọan sóng của lọai hình kỹ thuật này rất nhiều. Chưa kể, muốn sử dụng lọai này, khán giả phải bỏ tiền mua thiết bị giải mã. Thậm chí, để xem ngon lành, còn phải mua tivi kỹ thuật số cho nó đồng bộ.

Xu thế này đã bắt đầu mở ra cuộc chay đua sản xuất tivi kỹ thuật số cũng như thiết bị giải mã set-top box. Đây là thị trường rộng lớn, tiềm năng.

Các nước trên thế giới đều đã và đang tiếp tục đẩy mạnh việc chuyển giao từ kỹ thuật analog sang số. Điều không phải bàn cãi, tương lai của ngành truyền hình thế giới vẫn chủ yếu là truyền hình kỹ thuật số.

Phân tích tương lai như vậy thì ở Việt Nam, VTV sẽ cạnh tranh với VTC bằng công nghệ nào? Câu trả lời của tôi là DTH.

Thực ra DTH cũng là truyền hình kỹ thuật số. Khác với VTC là truyền hình kỹ thụât số mặt đất, DTH (Direct to home) là truyền hình kỹ thuật số vệ tinh. Công nghệ DTH cho phép từng hộ gia đình nhận tín hiệu truyền hình vệ tinh với chất lượng cao, số lượng kênh lớn, không còn phải giương ăn-ten lên trời như truyền hình analog nữa. Đài truyền hình cũng dễ dàng quản lý số lượng thuê bao, phân phối chương trình.

DTH vừa cho phép triển khai hình thức chương trình miễn phí, đồng thời phát hiện hệ thống chương trình trả tiền. Đây là nguồn thu rất lớn cùng với quảng cáo của truyền hình trong tương lai.

Đây sẽ là vũ khí của VTV nhằm đối chọi lại VTC. Tuy nhiên, hiện DTH ở VTV lại chủ yếu được dùng để phủ sóng miễn phí những vùng sâu vùng xa. Chưa thấy những chiến lược phát triển rõ ràng nhằm cạnh tranh hịêu quả với VTC ngoài việc ráo riết xây dựng một trung tâm kỹ thuật sản xuất chương trình công nghệ số theo đúng tiêu chuẩn Nhật Bản. Phải chăng, VTV đang tự hạn chế sự phát triển của DTH để đẩy mạnh dịch vụ truyền hình cáp trước khi tung ra chiến thuật mới?

Dịch vụ truyền hình cáp

Về mặt lý thuyết, truyền hình cáp truyền qua đường dây dẫn nên cho chất lượng hình ảnh, âm thanh tốt hơn truyền hình kỹ thuật số phải truyền qua không gian. Truyền hình cáp không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thời tiết, dây dẫn cắm thẳng vào tivi. Tuy nhiên, đối với những chương trình truyền hình khai thác ở VN, nhà cung cấp vẫn phải nhận tín hiệu chương trình từ vệ tinh trước khi phát qua cáp. Chỉ chương trình tự sản xuất mới đảm bảo giữ nguyên chất lượng gốc khi truyền đến tivi.

Với chất lượng tốt hơn, kênh phát sóng cũng nhiều không kém truyền hình kỹ thuật số, vậy tại sao truyền hình cáp vẫn không được đánh giá cao? Đơn giản bởi nó quá tốn kém và thiếu linh động trong việc mở rộng diện phủ cáp. Mỹ phải mất hơn 10 năm mới phủ tương đối cơ bản toàn liên bang. Chi phí bỏ ra vô cùng lớn. Người ta ví von không khác gì đem hàng tỷ đô la chôn xuống đất. Mà thời gian thu hồi vốn rất lâu. Những thị trường nào mà truyền hình kỹ thuật số đã thâm nhập, rất khó cho hệ thống truyền hình cáp cạnh tranh trừ trường hợp, đài truyền hình sản xuất những chương trình cực kỳ hấp dẫn và chỉ phát riêng trên cáp. Vấn đề này sẽ bàn cụ thể trong một bài viết khác.

Nhìn vào thị trường Việt Nam, cơ hội để cáp mở rộng diện bao phủ không nhiều, có lẽ sẽ chỉ giới hạn trong vài thành phố lớn. Khách hàng sẽ chủ yếu là khách hàng truyền thống, đến với cáp trước khi có hệ thống truyền hình kỹ thuật số. Cáp chỉ có cửa cạnh tranh duy nhất là chất lượng chương trình tự sản xuất. Nhưng điều này không thuộc phạm vi bàn đến của bài viết.

Vài năm nữa, khi yêu cầu ngầm hóa tất cả các đường dây, với điều kiện Việt Nam, không hiểu hệ thống truyền hình cáp sẽ tồn tại như thế nào. Chẳng nhà đầu tư nào dám đổ tiền cho truyền hình cáp vào thị trường mà truyền hình số đã triển khai cơ bản. Nhưng truyền hình số vẫn có thể phát triển ở những thị trường mà truyền hình cáp đã phủ toàn bộ. Linh động hơn, chi phí đầu tư hợp lý hơn đóng vai trò quyết định cho ưu thế của truyền hình kỹ thuật số trước cáp.

Đây là 3 dạng truyền hình cơ bản mà chúng ta đều biết. Trong bài sau, tôi sẽ phân tích tiếp xem giữa truyền hình số mặt đất và truyền hình số vệ tinh, công nghệ nào sẽ chiếm ưu thế trong tương lai đồng thời bổ sung thêm 2 công nghệ truyền hình còn tương đối mới mẻ là truyền hình di động và truyền hình internet.

Có một điều cũng cần nói thêm là công nghệ khác nhau sẽ đem đến những hệ thống tính chất chương trình khác nhau, tạm chia ra 2 lọai là chương trình miễn phí và chương trình trả tiền. Đó cũng là chủ đề của những bài viết kế tiếp.

Written by Trương Công Tú

June 19, 2008 at 11:21 am

Cảm xúc mưa

with one comment

Những chiều này Hà Nội cứ mưa liên miên.

Mưa nên không đá bóng được.

Mưa nên chiều nay lỡ mất cuộc hẹn.

Mênh mang một cảm xúc khó tả.

Hóa ra, tâm hồn mình cũng có những thời lãng mạn ra phết. Đến giờ đầu đầy sạn vẫn nhớ được những vần thơ

Hẹn em quên chẳng hẹn trời

Đêm qua mưa gió

Ướt hết lời hẹn nhau

Anh khờ lắm biết gì đâu

Để em hờn giận, em buồn rầu vì anh

Tập xa nhau

Mãi chẳng thành

Lại càng thương nhớ

Lại đành phải yêu

Em ơi

Đừng nhắc anh nhiều

Đừng nói yêu nữa

Bao nhiêu cho vừa

Thôi mà

Chỉ tại

Gió

Mưa

Bài trên là của Đặng Vương Hưng.

Bài dưới đây là của nhà thơ Nguyễn Duy

Bộn bề công việc bấy lâu

Hẹn nhau dành dụm cho nhau một chiều

Đường nào cũng lắm thương yêu

Lối nào cũng đẹp, rất nhiều lứa đôi

Trong veo là nắng với trời

Ngổn ngang thân mến là người với nhau

 

Trời đang xanh thắm một màu

Tự dưng lộp độp ngang đầu

Ồ, mưa

Mưa rào giữa nắng hay chưa

Hạt mưa ném thẳng có chừa ai đâu

Vội vàng ta nấp vào nhau

Mái đầu che lấy mái đầu thoảng hương

Em đừng trách nhé em thương

Nào ai biết được giữa đường gặp mưa

Tiếng em như tiếng gió lùa

Thôi đừng nói giọng người xưa buồn cười

 

Từ môi mưa giọt xuống môi

Nhấm chung một hạt mưa rơi mặn mà

Áo em ướt lẫn vào da

Tóc lẫn vào gió, gió là sợi tơ

Mắt em trong đến ngây thơ

Trong như nắng, giữa mịt mù mưa giăng… 

Written by Trương Công Tú

June 18, 2008 at 10:52 am

Posted in Thơ

Tagged with ,

Truyền hình analog

leave a comment »

Từ bài viết này, tôi đánh liều phân tích những yếu tố kỹ thuật, nghiệp vụ và cả góc nhìn xã hội của một số công nghệ truyền hình trong sự hiểu biết của mình. Qua đó, chúng ta thử cùng nhau hình dung xu thế truyền hình trong tương lai sẽ như thế nào.

Tất nhiên phải bắt đầu bằng truyền hình analog.

Công nghệ analog ra đời gần như cùng với chiếc tivi đen trắng và tồn tại cho đến ngày nay (tất nhiên được cải tiến theo thời gian, đặc biệt từ khi có tivi màu). Đây là kỹ thuật truyền hình mặt đất bằng tín hiệu analog, được biết đến với dạng hình sin (khác với truyền hình kỹ thuật số được số hóa ra những con số 0, 1). Ưu điểm của truyền hình này là dễ triển khai, chi phí thấp. Nhược điểm về mặt kỹ thuật là dễ nhiễu sóng trong điều kiện thời tiết xấu, chất lượng hình ảnh – âm thanh trung bình. Đặc biệt, chuẩn analog chỉ cho phép phát được một chương trình trên mỗi kênh, rất lãng phí tài nguyên tần số (chuẩn của truyền hình kỹ thuật số mặt đất cho phép phát tới 8 chương trình).

Cách đây khoảng 5 năm trở về trước, hình ảnh mỗi nhà một chiếc ăng ten trên nóc đã trở nên quen thuộc, ghi nhận sức mạnh và độ phổ biến của truyền hình analog. Nhắc đến analog là nhắc đến hệ thống truyền hình quảng bá (National TV) như VTV1,2,3,4,5 và các kênh truyền hình địa phương. Gọi là truyền hình quảng bá bởi nó tồn tại để phục vụ cho những yêu cầu chính trị, xã hội của nhà nước. Người dân được xem miễn phí tất cả chương trình. Chính điều này làm nảy sinh bài toán nan giải: truyền hình là họat động báo chí hay là ngành kinh tế? (Tôi sẽ viết riêng 1 bài về vấn đề này)

Truyền hình analog với lịch sử và thương hiệu của mình, dù không được gắn nhiệm vụ kinh doanh, vẫn đang là công cụ kiếm tiền mạnh nhất thông qua quảng cáo ở các đài truyền hình của Việt Nam. Đài truyền hình kỹ thuật số VTC sinh sau đẻ muộn với công nghệ vượt trội vẫn phải xây dựng những kênh analog để cạnh tranh nguồn thu quảng cáo trong khi chờ xu thế xã hội thay đổi theo chiều hướng xem truyền hình trả tiền.

Nhìn ra thế giới. Đức đã dừng phát truyền hình analog để chuyển sang truyền hình kỹ thuật số từ năm 2003. Năm 2009, Mỹ cũng sẽ khai tử cho truyền hình analog trên toàn lãnh thổ. Thời điểm cáo chung của truyền hình analog ở Hàn Quốc cũng đã được xác định vào năm 2002. Với xu thế hiện nay, thậm chí Hàn Quốc sẽ phải đẩy nhanh thời điểm chia tay này. Sau 5 năm nữa, analog sẽ được các nước trên thế giới đưa vào viện bảo tàng.

Trong khi đó, năm ngoái, VTV quyết định cho ra thêm 2 kênh analog là VTV6 và VTV9. Nhiều người cho rằng, 2 kênh này ra đời để san sẻ gánh nặng quảng cáo đã quá tải trên kênh VTV3. Việc phát triển một kênh truyền hình chuyên đối tượng (thanh thiếu niên – VTV6) trên một kênh analog (đáng ra phải trên một kênh truyền hình trả tiền) đem đến nhiều nghi ngại cho dư luận. Có lẽ trong tương lai, kênh này sẽ phải sống trên hệ thống truyền hình cáp và DTH.

Nguồn thu của truyền hình analog ở đâu? Ngân sách nhà nước và quảng cáo. Analog đang lết những bước cuối cùng trước khi hoàn thành trách nhiệm công nghệ của mình. Khi nó được khai tử, VTV sẽ sống bằng gì trong khi VTC với công nghệ kỹ thuật số là hiện tại và tương lai của truyền hình thế giới đang ngày một chiếm lĩnh thị trường? Truyền hình cáp, DTH, internet và di động. Tôi nghiêng nhiều về khả năng DTH nhưng đến nay, vẫn chưa thấy VTV có những bước chuẩn bị cụ thể mang tính chiến lược nào. Hay VTV nhất định chung thủy ôm lấy analog bất chấp xu thế của thế giới? Theo những thông tin không chính thức tôi có được, VTV năm vừa qua mất khoảng 30 đến 40% doanh thu quảng cáo. Một phần do kinh tế suy thoái, nhưng tôi nghĩ nó thể hiện rõ ràng sự thật, sức hấp dẫn của analog đang suy giảm nghiêm trọng. Và con số này trong những năm tiếp theo còn thấp nữa. Bạn nào làm chân chạy quảng cáo cho các công ty truyền thông hẳn nhận biết rõ nhất sự thay đổi trong năm 2008 so với những năm trước.

Trong bài sau, tôi sẽ so sánh cụ thể hơn truyền hình analog với truyền hình kỹ thuật số, cáp, DTH… để có được hình dung toàn cảnh bức tranh công nghệ truyền hình trong tương lai gần trước khi chúng ta bàn vào một vấn đề hết sức hấp dẫn: chương trình truyền hình trong tương lai sẽ mang bộ mặt nào?

Written by Trương Công Tú

June 18, 2008 at 7:48 am